About The Author


Năm 2008

Cộng đồng IAM 2008

Năm 2009

Cộng đồng IAM 2009

Năm 2010

Cộng đồng IAM 2010

Năm 2011

Cộng đồng IAM 2011

Năm 2012

Cộng đồng IAM 2012

Năm 2013

Cộng đồng IAM 2013

Bài 1: KHUNG PHÁP LUẬT NHÃN HIỆU VIỆT NAM

KHUNG PHÁP LUẬT NHÃN HIỆU VIỆT NAM Pháp luật nhãn hiệu Việt Nam hiện hành là một bộ phận hợp thành của pháp luật sở hữu trí tuệ (SHTT). Pháp luật SHTT Việt Nam trước hết được quy định tại Phần Thứ sáu Bộ Luật Dân sự Việt Nam được sửa đổi vào tháng 6 năm 2005, trong đó, ghi nhận các quyền SHTT là một trong các dạng tài sản dân sự. Cụ thể, Điều 163 của Bộ Luật Dân sự đã phân loại: “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Điều 181 của Bộ Luật định nghĩa: “quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền SHTT”. Điều 164 của Bộ Luật xác định: “quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ sở hữu…”. Sau đó, Phần thứ sáu của Bộ Luật Dân sự đã dành 2 Chương để đưa ra những khái niệm cơ bản nhất về các quyền SHTT: Chương 24 về Quyền tác giả và Quyền liên quan (từ Điều 736 đến Điều 749) và Chương 25 về Quyền Sở hữu công nghiệp (SHCN) và Quyền đối với giống cây trồng (từ Điều 750 đến Điều 753). Đến tháng 11.2005, Luật Sở hữu Trí tuệ được ban hành và có hiệu lực thi hành từ ngày 01.7.2006, bao gồm 222 điều, quy định chi tiết rất nhiều khía cạnh liên quan đến hoạt động xác lập, bảo vệ và khai thác các quyền SHTT trong đó có quyền SHCN đối với nhãn hiệu. Đến ngày 22.9.2006, 5 Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đồng loạt được ban hành, bao gồm: Nghị định 100/2006/NĐ-CP quy định chi tiết một số vấn đề về quyền tác giả và quyền liên quan, Nghị định 103/2006/NĐ-CP quy định chi tiết một số vấn đề về quyền SHCN, Nghị định 104/2006/NĐ-CP quy định chi tiết một số vấn đề về quyền đối với giống cây trồng, Nghị định 105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết một số vấn đề về bảo vệ quyền SHTT và quản lý nhà nước về SHTT, Nghị định 105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết về bảo vệ quyền SHCN. Tiếp theo, ngày 14.2.2007, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư 01/2007/TT-BKHCN hướng dẫn thi hành Nghị định 103/2006/NĐ-CP nêu trên, trong đó có nhiều quy định chi tiết liên quan đến các thủ tục xác lập và bảo vệ quyền SHCN đối với nhãn hiệu. Tuy nhiên, để có thể tìm hiểu đầy đủ hơn mọi khía cạnh liên quan đến pháp luật nhãn hiệu, một mặt, cần chú ý rằng Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều Điều ước quốc tế về nhãn hiệu nói riêng và SHTT nói chung; mặt khác, cũng cần xem xét đến các quy định liên quan đến nhãn hiệu và SHTT trong nhiều ngành luật khác như: đầu tư, kinh doanh, thương mại, cạnh tranh, chuyển giao công nghệ …

Bài 2: CẤU TRÚC LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM NĂM 2005

CẤu trúc LuẬt SỞ hỮu Trí tuỆ ViỆt Namnăm2005 Luật Sở hữu Trí tuệ Việt Nam năm 2005 được phân thành sáu phần chi tiết như sau: Ø  Phần thứ nhất : Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 12) Ø  Phần thứ hai : Quyền tác giả và quyền liên quan, bao gồm 6 Chương như sau: Điều kiện bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan (Chương I - từ Điều 13 đến Điều 17), Nội dung, giới hạn quyền, thời hạn bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan (Chương II - từ Điều 18 đến Điều 35), Chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan (Chương III - từ Điều 36 đến Điều 44), Chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan (Chương IV - từ Điều 45 đến Điều 48), Chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan (Chương V - từ Điều 49 đến Điều 55),  Tổ chức đại diện, dịch vụ, tư vấn quyền tác giả, quyền liên quan (Chương VI - từ Điều 56 đến Điều 57). Ø  Phần thứ ba : Quyền sở hữu công nghiệp, bao gồm 5 Chương: Điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Chương VII - từ Điều 58 đến Điều 85), Xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý (Chương VIII - từ Điều 86 đến Điều 120), Chủ sở hữu, nội dung và giới hạn quyền sở hữu công nghiệp (Chương IX - từ Điều 121 đến Điều 137), Chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp (Chương X - từ Điều 138 đến Điều 150) và Đại diện sở hữu công nghiệp (Chương XI - từ Điều 151 đến Điều 156). Ø  Phần thứ tư : Quyền đối với giống cây trồng, bao gồm 4 Chương: Điều kiện bảo hộ quyền đối với giống cây trồng (Chương XII - từ Điều 157 đến Điều 163), Xác lập quyền đối với giống cây trồng (Chương XIII - từ Điều 164 đến Điều 184), Nội dung và giới hạn quyền đối với giống cây trồng (Chương XIV - từ Điều 185 đến Điều 191) và Chuyển giao quyền đối với giống cây trồng (Chương XV - từ Điều 192 đến Điều 197). Ø  Phần thứ năm : Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm  3 Chương: Quy định chung về bảo vệ quyền SHTT (Chương XVI - từ Điều 198 đến Điều 201), Xử lý xâm phạm quyền SHTT bằng biện pháp dân sự (Chương XVII - từ Điều 202 đến Điều 210) và Xử lý xâm phạm quyền SHTT bằng biện pháp hành chính và hình sự, kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến SHTT (Chương XVIII - từ Điều 211 đến Điều 219). Ø  Phần thứ sáu : Điều khoản thi hành (từ Điều 220 đến Điều 222)   Theo cấu trúc đó, các quy định liên quan trực tiếp đến nhãn hiệu được phân bổ chủ yếu trong các Phần thứ nhất, Phần thứ ba và Phần thứ năm của Luật SHTT năm 2005. 

Bài 3: LUẬT SHT VIỆT NĂM 2005: CÁC QUY ĐỊNH CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN NHÃN HIỆU

LUẬT SHT VIỆT NĂM 2005:                                                                                 các quy đỊnh chung liên quan đẾn nhãn hiỆu Trước khi đi sâu xem xét các vấn đề cơ bản của pháp luật nhãn hiệu được thể hiện tập trung tại Phần thứ ba và Phần thứ năm của Luật SHTT, hãy điểm qua một số khái niệm chung nhất được quy định trong Phần thứ nhất. Theo Điều 4 Luật SHTT,quyền SHTT là quyền của tổ chức, cá nhân đối với các tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) và quyền đối với giống cây trồng (Khoản 1). Quyền SHCN là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh (Khoản 4). Nhãn hiệu (NH) được định nghĩa là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau (Khoản 16), trong đó, có bốn loại NH đặc biệt là:NH tập thể (để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu NH đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức – Khoản 17), NH chứng nhận (do chủ sở hữu NH cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của họ để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của sản phẩm – Khoản 18), NH liên kết (các NH trùng hoặc tương tự nhau, do cùng một chủ thể đăng ký  cho các sản phẩm cùng loại, tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau – Khoản 19) và NH nổi tiếng (được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam – Khoản 20). Theo Điểm a, Khoản 3, Điều 6 của Luật, quyền SHCN đối với NH chỉ phát sinh trên cơ sở văn bằng bảo hộ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo thủ tục đăng ký quốc gia hoặc quốc tế. Riêng đối với NH nổi tiếng, quyền sở hữu được xác lập trên cơ sở sử dụng NH và không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký. Theo Khoản 6, Điều 4 của Luật, chủ thể quyền SHTT là chủ sở hữu hoặc tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu chuyển giao quyền SHTT. Điều 7 của Luật quy định, chủ thể quyền chỉ được thực hiện quyền của mình trong phạm vi và thời hạn bảo hộ và việc thực hiện quyền không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác, cũng như không được vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên quan. Theo Điều 2, các quy định của Luật được áp dụng đối với các chủ thể Việt Nam và chủ thể nước ngoài đáp ứng các điều kiện quy định trong Luật và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là quốc gia thành viên. Theo Khoản 2, Điều 5, trong trường hợp điều ước quốc tế liên quan có quy định khác với quy định của Luật thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

Bài 4: CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ SHTT VÀ NHÃN HIỆU MÀ VIỆT NAM ĐÃ THAM GIA

Các ĐiỀu ưỚc quỐc tẾ vỀ SHTT và nhãn hiỆu                              mà ViỆt Nam đã tham gia Đến nay, Việt Nam đã tham gia nhiều Điều ước quốc tế về SHTT, bao gồm: Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp, Công ước Bern năm 1886 về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật, Công ước Stockholm năm 1967 thành lập tổ chức SHTT thế giới (WIPO), Hệ thống Madrid gồm Thoả ước Madrid năm 1891 về đăng ký quốc tế về nhãn hiệu và Nghị định thư liên quan đến Thỏa ước năm 1989, Hiệp ước hợp tác quốc tế về bằng sáng chế (PCT) năm 1970, Công ước Rome năm 1961 về bảo hộ người biểu diễn, nhà xuất bản, ghi âm và tổ chức phát sóng, Công ước Brussel năm 1974 về bảo hộ tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá, Công ước Geneve năm 1971 về bảo hộ nhà xuất bản, ghi âm chống việc sao chép không được phép, Công ước UPOV năm 1961 về bảo hộ giống cây trồng mới. Hiệp định Việt Nam - Hoa kỳ năm 1997 về thiết lập quan hệ quyền tác giả, Hiệp định Việt Nam -Thụy sỹ năm 1999 về sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa kỳ năm 2000, Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) năm 1994 trong khuôn khổ các văn kiện của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Người quan tâm có thể xem và tải về toàn văn các văn kiện trên từ các trang web như: www.noip.gov.vn (Cục Sở hữu Trí tuệ Việt Nam), www.cov.vn (Cục Bản quyền tác giả Văn học Nghệ thuật Việt Nam), www.wipo.int (Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới), www.upov.int (Liên minh Bảo hộ Giống cây trồng quốc tế)… Trong số các điều ước quốc tế trên, ba Điều ước đa phương có các quy định liên quan trực tiếp đến các vấn đề về nhãn hiệu mà các doanh nghiệp có thể thường phải xem xét tuân thủ và vận dụng trong kinh doanh là: Công ước Paris, Thoả ước và Nghị định thư Madrid và Hiệp định TRIPS, sẽ được điểm qua tại bài 5 tiếp theo.   Ngoài ra, Việt Nam cũng thừa nhận và áp dụng Bảng Phân loại quốc tế hàng hoá và dịch vụ dùng trong đăng ký nhãn hiệu theo Thoả ước Nice năm 1957 và Bảng Phân loại quốc tế các yếu tố hình của nhãn hiệu theo Thỏa ước Vienne năm 1973. Bảng Phân loại quốc tế hàng hoá và dịch vụ dùng trong đăng ký nhãn hiệu phân bổ tất cả các chủng loại hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp tiến hành kinh doanh vào 45 nhóm, bao gồm 34 nhóm hàng hóa và 11 nhóm dịch vụ. Bảng Phân loại quốc tế các yếu tố hình của nhãn hiệu phân bổ tất cả các yếu tố đồ họa của nhãn hiệu thành 29 loại, trong đó có 144 phân loại với 1887 mục. Hai bảng Phân loại này luôn được doanh nghiệp lẫn các cơ quan nhãn hiệu quốc gia tham chiếu và vận dụng để tiến hành tra cứu các nhãn hiệu tương tự hoặc trùng lắp trong các hoạt động liên quan đến việc bảo hộ nhãn hiệu.