Bài 6: MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ NHÃN HIỆU TRONG CÁC NGÀNH LUẬT KHÁC

MỘt sỐ quy đỊnh vỀ nhãn hiỆu trong các ngành luẬt khác

Trước hết, Luật Đầu tư năm 2005 quy định nhà đầu tư có thể bỏ vốn bằng các loại tài sản vô hình để hình thành tài sản trong việc tiến hành các hoạt động đầu tư (theo Điều 3). Nhà nước bảo hộ quyền SHTT trong hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật về SHTT và các quy định khác của pháp luật có liên quan (theo Điều 7). Nhà đầu tư nước ngoài, sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam, được chuyển ra nước ngoài các khoản tiền nhận được từ việc cho phép khai thác các quyền SHTT của mình tại Việt Nam (theo Điểm b, Khoản 1, Điều 9). Nhà đầu tư trong nước có thể chuyển vốn đầu tư bằng các tài sản (tài sản = vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản, kể cả quyến sở hữu trí tuệ) hợp pháp ra nước ngoài để thực hiện đầu tư (theo Khoản 1, Điều 77). Để hỗ trợ các nhà đầu tư, Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân tiến hành các dịch vụ tư vấn về SHTT(theo Khoản 3, Điều 42).  

Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, trong việc góp vốn để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty, tài sản góp vốn có thể là giá trị quyền SHTT, công nghệ, bí quyết kỹ thuật (theo Khoản 4, Điều 4). Cổ phần, trái phiếu của công ty cổ phần cũng có thể được mua bằng giá trị quyền SHTT, công nghệ, bí quyết kỹ thuật ... (theo Điều 89) và doanh nghiệp phải lưu giữ các văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cùng các tài liệu, giấy tờ xác nhận quyền sở hữu tài sản của công ty tại trụ sở chính (theo Điều 12).

TheoLuật Cạnh tranh năm 2005, doanh nghiệp không được sử dụng một chỉ dẫn thương mại chứa đựng các thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý và các yếu tố khác để làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh. Doanh nghiệp cũng không được kinh doanh các hàng hoá, dịch vụ có sử dụng các chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn đó (theo Điều 40). Luật Cạnh tranh cũng cấm doanh nghiệp tìm cách chống lại các biện pháp bảo mật để tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác (theo Điều 41): dễ dàng nhận thấy rằng, có rất nhiều thông tin liên quan đến nhãn hiệu có thể là các bí mật kinh doanh như: dữ liệu thị trường, kế hoạch tiếp thị, danh sách khách hàng … 

 

Ngoài ra, nhiều ngành luật điều chỉnh các lĩnh vực kinh doanh cụ thể khác cũng đã có một số quy định liên quan đến các quyền SHTT nói chung và nhãn hiệu nói riêng mà các doanh nghiệp có thể cần xem xét để tuân thủ và vận dụng trong quá trình khai thác các quyền SHTT của mình. Thí dụ: các Điều 15, 23, 24 trong Pháp lệnh Quảng cáo 2001, các Điều 12, 69 trong Luật Công nghệ Thông tin 2005,  Khoản 24 Điều 2 trong Luật Dược 2005 ... ; đặc biệt là các quy định liên quan trong Luật Thương mạisẽ đề cập trong bài tiếp theo.

Thank for sharing!

About The Author